Mảnh| Mảnh| Mảnh thế giới đa chiều Lê Anh Hoài

14:33 26/12/2012

TRẦN NGHI HOÀNG 

“mảnh|mảnh|mảnh”, chỉ nhìn tập thơ, chưa cần đọc gì hết, đã thấy là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình với bố cục táo bạo và vững vàng. Không offset bảy màu, không chữ nổi giấy tráng glassy, chỉ đơn giản hai màu đen và trắng. Đơn giản, nhưng rất công phu với khuôn khổ 12,5 x 26.

Bìa tập thơ đa ngữ "Mảnh mảnh mảnh" của Lê Anh Hoài - Ảnh: internet

Tập thơ như dài ra, mở một con đường. Trên con đường đó, những ký tự ngôn ngữ Kinh, Kh’mer, K’ Ho, Lô Lô, và chữ Nôm được họa sĩ Nguyễn Trung Hiếu cho hòa quyện, kết tập vào nhau tạo thành một khối hình mà vừa nhìn qua, nó gợi cho tôi một ngôi nhà sàn mái nhọn với chân cột bên phải là một dấu hỏi ngược như đánh đố vào hư vô. Ngôi nhà lơ lửng trên nền không gian trắng. Trong ngôi nhà mái nhọn đó, năm ký tự ngôn ngữ (có thể còn là vô số ký tự ngôn ngữ khác chưa được trú cư vào?) quẫy lộn và vui chơi cùng nhau.

Chơi vui dường như là bản chất nghệ thuật của Lê Anh Hoài. Hay nói cách khác, chơi vui là phong cách nghệ thuật Lê Anh Hoài. Hoài chơi vui nghệ thuật hết sức nghiêm túc. Từ những performing art như “Tôi là cột điện”, “Đổng cu”… cho đến tập truyện “Tẩy sạch vết yêu”… Và bây giờ là tập thơ “mảnh|mảnh|mảnh”. Hoài không “gồng mình” để “chơi lạ”, “chơi nổi”, mà là “chơi vui”. Tất cả những cuộc “chơi vui” nghệ thuật của Hoài đều hết sức nghiêm túc như tôi đã nói, vì tôi có thể cảm nhận được nó đã khởi đi và thành tựu từ những trầm tư, suy nghiệm, tìm tòi vào nghệ thuật của cá nhân anh.

Hãy mở vào từng trang của tập thơ. 16 bài thơ bằng năm ký tự ngôn ngữ được trân trọng trình bày xen lẫn với những thư pháp năm ký tự ngôn ngữ. Mỗi một trang trong tập thơ, dù ở ngôn ngữ nào, cũng cho thấy sự nâng niu của những người thực hiện nó. Từ điều này cho tôi ý nghĩ là Lê Anh Hoài cố tình cho người đọc “thấy” được sự “đồng tác giả” của tập thơ… Tác giả Lê Anh Hoài, những dịch giả Lò Giàng Páo, K’ thế, Thạch Đờ Ni, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Trung Hiếu. Mỗi người là tác giả của một phần trong công trình chung “mảnh|mảnh|mảnh”. Và bây giờ, đến lượt người đọc, mỗi người đọc cũng có thể tham gia làm tác giả, nếu bạn muốn… bước vào “cái BAY” hạnh phúc của Lê Anh Hoài. Dù chính tự tác giả đã cảnh báo:

khát khao
bước
ngoài giới hạn
ngoảnh lại nhìn
đám đông ném đá

(Người bị ném đá, trang 14)

Ngoảnh lại nhìn, nhưng rồi sẽ tiếp tục “đi” thôi. Đá sẽ ném vào sau lưng người đã bỏ đi. Thái độ này có được bởi ý thức rõ ràng về biến tấu của thời gian và không gian đã được chiêm nghiệm:

hình ảnh em lung linh sẽ
nhòa dần trong men rượu
loang loang, tam sao thất
bản, nét quý giá nhòa đi trong dòng người tấp nập
đèn đỏ ngã tư,
bán mua đầy chợ
Đó là lúc tôi của ngày hôm
nay chết!

(“Tôi của ngày hôm nay chết”, trang 36)

Ý thức về sự tồn tại của sự vật và mọi thứ chỉ trong sát na hiện tiền. Và ngay cả cái sát na hiện tiền biết đâu “ý thức” đó cũng đã bị khúc xạ và nhiễu tượng qua một chiều không gian hay thời gian nào chưa quen biết?

Chẳng có gì phải nói
vì tất cả đã thấu hết rồi
............
Lời chỉ là những gì sau này chúng ta sẽ nói
sau khi chúng ta qua kiếp nạn này

(“Lời”, trang 41)

Không có gì phải nói nữa, thì có ra dấu được không? Vì chờ cho qua kiếp nạn này thì chờ đến bao giờ? Câu hỏi này không nhất thiết phải trả lời. Vì “lời” đã mất tích thì lấy chi mà trả!

Chúng mình đã khát khao ánh sáng/ và đã cùng nhau nhảy vọt lên bờ/ nắng thiêu chúng ta đến tan thành nước
........
ta chảy tan rồi ta chết mất thôi/ làn nước lạnh u buồn/ ta chết chìm trong làn nước tối
..........
tan chảy lung linh giọt mình nguyên chất/ tan chảy thành hơi tan vào cõi mất/ tan chảy tan chảy tan chảy tan chảy

............
(“Cá”, trang 67)

Tan chảy cũng là một “cách chết”. Có thể đây là một cách chết thơ mộng cần có hai người để thực hiện trong một ngày nắng trên bờ và mưa dưới nước…

người diễn trên thập tự
mang khuôn mặt nhựa pê đê cười mỉm
dàn thánh ca ngây ngất cần sa

(như trên. “Em trôi trên ngã tư giáng sinh”, trang 73)

Ngây ngất cần sa hay sự ngất ngây cần thiết? Sa đọa hay sa xuống rớt xuống! Marijuana hay Maria linh hồn tôi ớn lạnh. Không có chi lo lắng! Sự cứu rỗi tức thì liền ngay đó:

tiếng chuông thất thanh xếp đặt

Liền ngay sau tên gọi của những bánh mì và coca và:

cha tôi nằm co trên chiếc giường khô liệt/ mấy giáng sinh/ Chúa đâu? trong mắt cha tôi chỉ thấy/ bầu trời đen thẳm

dòng người tắc tị ngã tư, hình như em/ đang trôi trên đầu bọn chúng/ chợt thấy cương/ ôi mắt em trong như mẹ mari.


mari nào? Làm sao biết được! Em đã trôi đi, mọi người cùng trôi… Cuộc sống và cuộc chết cùng trôi đi… Tôi trôi qua mọi người và mọi người trôi qua tôi…

Thỉnh thoảng tôi gặp một trong số họ, những
người lưu - mảnh - tôi
Tôi nhận ra họ cũng là những mảnh mảnh mảnh
mà tôi thu lượm được

(“mảnh|mảnh|mảnh, trang 86)

Nhưng rồi trong một phút giây bần thần, câu hỏi chờn vờn hiện ra:

Những gì trong đầu tôi liệu có phải là thật?

Câu hỏi mở ra trùng trùng những câu hỏi khác: Liệu những hiện hữu trước mắt tôi có phải là thật? Liệu thế này…? Liệu thế kia…? Liệu sự thật có phải là sự thật? Bỗng nhiên cuộc vui chơi trở thành trầm trọng. Bởi vì, ngay trong trò chơi trốn tìm…

ta trốn nhau và cùng nhau trốn đám đông
ta trốn chính mình lạc mất chính mình

(“Trò chơi”, trang 92)

Trò chơi không còn là trò chơi nữa. Lắm lúc nó thành bi kịch. Bi kịch ập xuống khi “đức Chúa bã trà lipton gục/ đầu trên thánh giá khuấy ly/ bằng nhựa/ tòa giáo đường bảng/ menu/ đống diêm cương cứng nụ/ xòe chết gục trong quan/ tài giấy ăn trắng lốp. (“Loang loáng”, trang 105). Bi kịch cũng là trò chơi của thảm kịch; khi những ngụp lặn đã hụt hơi, ngay cả trong tình yêu cũng là tình huống. Lê Anh Hoài luôn tinh quái dù trong tình huống nào chăng nữa:

một giấc mơ vườn cây giữa sa mạc
những con đường nhựa
một giấc mơ nụ hôn
giữa tiếng rú gầm của những động cơ
..........

tôi - em bội thực nhau
........
(“Nhu cầu”, trang 125)

Bi kịch nằm ngay trong hạnh phúc. Và lắm khi thảm kịch mang mặt nạ của hạnh phúc. Con người trong thơ Lê Anh Hoài vui chơi, nhưng là cuộc chơi vui trong ma sát của chính mỗi tự thân, của mỗi “chính mình”. Rốt cùng, chỉ còn lại đêm tối - chốn dung thân, nơi ẩn náu muôn đời…

chỉ có đêm mới biết/ chúng mình điên/ đến mức nào/ chỉ có chúng mình/ mới biết đêm đen tối/ và tuyệt vời/ xin đừng gọi, đừng gọi/ anh và em sẽ tỉnh lại/ và rơi xuống/ và chết vì sự chắc chắn/ của mặt đường. (“Mộng du”, trang 130)

Mặt đường là mặt đời. Dù tình ái có thăng hoa đưa bốc chúng ta bay lên khỏi cuộc đời, khỏi mặt đường nhựa & bê tông… thì thực ra chỉ là một cuộc “mộng du, chiêm bao tỉnh thức”… Điều nguy hiểm là khi có ai gọi “anh và em” tỉnh dậy… Sự tình sẽ ô hô ai tai…

Lê Anh Hoài không so vai vuốt tóc, không nặng nề triết lí trong thơ. Hoài chơi vui như từng chơi vui những cuộc… khác của anh. Nhưng từ sự thông minh và qua những trải nghiệm sống của mình, cùng những suy tư và quan sát xã hội quanh anh, đã cho thơ Lê Anh Hoài hồn nhiên có những “mảnh” ý tưởng sâu sắc về con người và cuộc sống.

T.N.H  
(SH286/12-12)







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.